Hiện Thực Ước Mơ - Vươn Cao Tỏa Sáng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp Vụ Tín Dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp Vụ Tín Dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

24 thg 9, 2013

Tờ 100 USD mới sẽ lưu hành vào tháng sau

Sứ quán Mỹ tại Hà Nội hôm nay thông báo tờ 100 USD mới với nhiều tính năng tiên tiến chống làm giả chính thức lưu hành từ 8/10. 

Hai đặc điểm an ninh nâng cao của thiết kế tờ 100 USD mới là dây an ninh 3-D và chiếc chuông trong lọ mực. Theo đó, khi lật nghiêng tờ tiền, những chiếc chuông trong dải băng xanh sẽ chuyển thành số 100. Dây an ninh này được đan xen trong tờ tiền thay vì in. Biểu tượng chiếc chuông trong lọ mực cũng sẽ chuyển từ màu đồng thành xanh lá khi nhìn nghiêng.

Tiền mới còn có số 100 nhũ vàng lớn ở phía sau, giúp người thị lực kém phân biệt được mệnh giá. Đặc tính đổi màu sang xanh lá cũng được áp dụng với số 100 ở góc dưới bên phải mặt trước của tờ tiền. Chân dung Benjamin Franklin vẫn được in trên mặt trước của tờ tiền mệnh giá cao nhất nước Mỹ.
new-100-dollar-bill-3320-1379495178.jpg
Thiết kế tờ 100 USD mới với nhiều tính năng bảo an. Ảnh: New Money
Đây là lần thứ tư tờ 100 USD được thiết kế lại, người phát ngôn của FED cho biết. Họ đã thay đổi tờ tiền này ba lần trong 20 năm qua để chống lại công nghệ làm tiền giả.

Thông cáo do Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội phát đi hôm nay cũng cho biết, theo chính sách của Chính phủ Mỹ, tất cả các thiết kế đồng tiền ở nước này vẫn có giá trị, bất kể thời điểm in là khi nào. Chính sách này được áp dụng với tất cả các loại tiền giấy của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ kể từ 1914.
Thiết kế mới được công bố lần đầu năm 2010, dự định đưa vào lưu thông tháng 2/2011 nhưng sau đó bị trì hoãn do lỗi in tiền nhăn cuối tháng 10. Giữa tháng 8 năm nay, 30 triệu tờ mệnh giá 100 USD lại bị phát hiện lỗi do đổ mực quá nhiều. Nhà máy in tiền thứ hai của FED tại Texas đã phải tăng tốc để hoàn thành việc in ấn trước ngày lưu thông - 8/10.

100 USD là tờ tiền cuối cùng được thiết kế lại để đối phó với công nghệ làm giả ngày càng tiên tiến. Quá trình thay đổi bắt đầu từ năm 2003 khi Mỹ đưa thêm đặc điểm dây an ninh, hình chìm chân dung và số 20 đổi màu vào tờ 20 USD. Các cải tiến tương tự cũng được áp dụng lên tờ 50 USD mới năm 2004 và tờ 10 USD mới năm 2006. Tờ 5 USD mới được phát hành năm 2008 với các chi tiết cột có ba hình chìm số 5 nhỏ, dây an ninh và hình chìm số 5 lớn. Chỉ có tờ 1 USD là không được thiết kế lại.
Thùy Linh

'Tín dụng 2013 chỉ có thể tăng trưởng 9%'

Theo Phó tổng giám đốc VIB Lê Quang Trung, tín dụng đang tăng trở lại nhưng từ nay đến cuối năm khó có thể đạt mục tiêu 12%. 

Tín dụng đến hết tháng 8 tăng trưởng 6,45% so với cuối năm 2012. Kết quả này khiến Ngân hàng Nhà nước gần đây dự báo cả năm 2013 sẽ đạt mục tiêu 12% như Quốc hội đề ra trong một báo cáo mới đây.

nganhang2-aq490-1915-1380032834.jpg
Vốn ngân hàng bắt đầu được đẩy ra nền kinh tế nhưng nhiều chuyên gia cho rằng khó đạt mốc 12% cho cả năm 2013. Ảnh; Anh Quân.  
 
Tại một hội thảo về tổng quan kinh tế vĩ mô vừa tổ chức ngày 24/9 tại Hà Nội, ông Lê Quang Trung - Phó tổng giám đốc Ngân hàng Quốc tế (VIB) dự đoán tín dụng cả nền kinh tế trong năm 2012 chỉ tăng tối đa 9%. Lý giải với VnExpress, ông Trung cho rằng, dù đây là thời điểm vào mùa vụ sản xuất kinh doanh nhưng khi đánh giá tăng trưởng tín dụng, nên nhìn vào "thực lực hiện tại" của các doanh nghiệp. "Thực tế là đối tượng đạt điều kiện tiếp cận tín dụng, đủ chuẩn khẩu vị rủi ro của ngân hàng ngày một ít đi", đại diện VIB nhận xét.

Gần đây, nhiều ngân hàng liên tục thông báo đã giải ngân những khoản vay lớn, có nơi khoe chỉ trong một tháng bơm được vài ba nghìn tỷ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo ông Trung, những tín hiệu thời gian vừa qua chưa đủ để cho thấy vốn ngân hàng có thể tăng trưởng 12% như mục tiêu của nhà điều hành. "Những món mới giải ngân dù lớn nhưng đừng quên các ngân hàng còn những khoản đáo hạn lớn vào cuối năm. Do đó, mấy nghìn tỷ đồng này cũng không kịp bù đắp đủ và khiến tốc độ tăng trưởng tín dụng so với đầu năm không cao", vị này phân tích.

Ngoài chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tại hội thảo này, Ngân hàng VIB cũng đưa ra một số dự báo về diễn biến tỷ giá những tháng cuối năm. Theo đó, việc điều chỉnh chính sách để hỗ trợ xuất khẩu là một trong những yếu tố có thể tác động lên tỷ giá. Ngoài ra, việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nhập vàng để đáp ứng nguồn cung cho thị trường qua các phiên đấu thầu cũng có thể gây tác động. Ngoài ra, thông thường vào cuối năm, nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ cũng tăng cao. "Kịch bản tốt nhất là tỷ giá sẽ đi ngang. Tình huống khác là tỷ giá có thể sẽ tăng lên 21.500 đồng để hỗ trợ cho xuất khẩu nhưng không quá 3% trong cả năm 2013", đại diện VIB dự đoán.

Về lãi suất huy động, ông Trung dự báo không có đợt điều chỉnh nào tiếp theo. Hiện trần lãi suất huy động VND với kỳ hạn dưới 6 tháng là 7% một năm. Vụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong một báo cáo công bố vài ngày gần đây cũng cho rằng, mặt bằng lãi suất đã trở về với thời điểm của năm 2005-2006. "Mức lãi suất hiện nay đã rất thấp và tôi tin Ngân hàng Nhà nước không còn dư địa để cắt giảm lãi suất tiếp. Theo tôi các doanh nghiệp nên lấy lãi suất này là điểm mốc để xây dựng phương án kinh doanh phù hợp", ông nói.
Thanh Thanh Lan


17 thg 3, 2011

Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam


Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam

Mô hình quản lý rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản lý rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng. Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra.

Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng. Đó là mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán.

1. Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung

Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp.Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng.

* Điểm mạnh:

• Quản lý rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài.

• Thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro.

• Xây dựng chính sách quản lý rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống.

• Thích hợp với ngân hàng quy mô lớn.

* Điểm yếu:

• Việc xây dựng và triển khai mô hình quản lý tập trung này đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.

• Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng lý thuyết với thực tiễn.

2/ Mô hình quản lý rủi ro tín dụng phân tán

Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp. Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay.

* Điểm mạnh:

• Gọn nhẹ.

• Cơ cấu tổ chức đơn giản.

• Thích hợp với ngân hàng quy mô nhỏ.

* Điểm yếu:

• Nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu.

• Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng.

II. Định hướng áp dụng mô hình quản lý rủi ro

Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của ủy ban Basel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ, con người, mô hình các NHTMVN khuyến nghị nên áp dụng mô hình quản lý rủi ro tập trung.

Tại Hội sở chính: tách bạch chức năng ra quyết định tín dụng với chức năng quản lý tín dụng trên cơ sở phân định trách nhiệm và chức năng rõ ràng giữa các bộ phận thẩm định, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng.

Tại chi nhánh: Tiến hành tách các bộ phận, chức năng bán hàng (tiếp xúc khách hàng, tiếp thị…), chức năng phân tích tín dụng (phân tích, thẩm định, dự báo, đánh giá khách hàng …) và chức năng tác nghiệp (xử lý hồ sơ, theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ, thu lãi…)

Với mô hình này, bộ phận quan hệ khách hàng chịu trách nhiệm tìm kiếm, phát triển và chăm sóc khách hàng. Bộ phận này sẽ tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay vốn, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ và các thông tin liên quan đến khách hàng cho bộ phận phân tích tín dụng.

Bộ phận phân tích tín dụng kiểm tra thông tin, thu thập các thông tin bổ sung qua các kênh thông tin lưu trữ ngân hàng, hỏi tin qua CIC, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng… Trên cơ sở thông tin đó, bộ phận phân tích tín dụng thực hiện phân tích, đánh giá toàn bộ các nội dung từ tình hình chung về khách hàng, tình hình tài chính, phương án, dự án vay vốn đến các nội dung về đảm bảo tiền vay. Bộ phận phân tích tín dụng trực tiếp báo cáo kết quả, phân tích đánh giá khách hàng lên người phê duyệt tín dụng. Kết quả phê duyệt tín dụng sau đó sẽ được chuyển cho bộ phận phân tích tín dụng để lưu trữ thông tin đồng thời được chuyển cho bộ phận quan hệ khách hàng để thực hiện các khâu tiếp theo trong quy trình tín dụng.

Ths. Nguyễn Đức Tú
Giảng viên Trường ĐT và PTNNL VietinBank

14 thg 3, 2011

Quy trình tín dụng của ngân hàng

1. Quy trình tín dụng là gì?

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng.

2. Ý nghĩa của quy trình tín dụng

Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại.

Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:

  • Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng.
  • Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn.

3. Một quy trình tín dụng căn bản gồm 6 bước:

Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:

  • năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
  • khả năng sử dụng vốn vay
  • khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

Bước 2: Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.

Mục tiêu:

  • Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
  • Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay.

Bước 3: Ra quyết định tín dụng

Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.

Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

  • Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt
  • Từ chối cho vay với một khách hàng tôt.

Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

Bước 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.

Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.

Bước 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng,... để đảm bảo khả năng thu nợ.

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

(Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, TS. Nguyễn Minh Kiều)

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Grants For Single Moms